Lá thư cuối của Warren Buffet và vấn đề kẻ ác
Rất cảm động khi đọc lá thư cuối cùng Warren Buffet gửi tới cổ đông của Berkshire Hathaway, nhà hiền triết xứ Omaha (cùng vị Phó chủ tịch Charlie Munger) là một trong những người có ảnh hưởng sâu sắc đến nhân sinh quan của mình. Lá thư của ông có thể tóm tắt ngắn gọn: bày tỏ sự hài lòng với nửa sau cuộc đời mình so với nửa trước đồng thời đi kèm lời khuyên kinh điển (vốn lặp đi lặp nhiều trong những lần nói chuyện ở đại hội cổ đông) rằng chúng ta không nên mắc kẹt với những sai lầm trong quá khứ, mỗi cú vấp ngã dạy cho ta bài học gì đó, chỉ cần ghi nhận và tiếp tục bước về phía trước. Chả bao giờ là quá muộn để cải thiện bản thân và quan trọng nhất, chúng ta phải có những hình mẫu hay anh hùng đúng đắn trong đời để dõi theo và định hình các giá trị muốn bao phủ quanh bản thân mình.
Warren nói về sự vĩ đại cũng hay ho biết bao. Sự vĩ đại không đến từ việc tích lũy giàu có vô độ, sự nổi tiếng hay quyền lực trong chính phủ - nó phải xuất phát từ ý định giúp đỡ ai đó theo hàng ngàn cách khác nhau, để từ đó cải thiện thế giới. Dĩ nhiên, vĩ đại cũng đến từ sự tử tế, thứ không tốn chi phí nhưng vô giá (costless but also priceless, trời ạ cách dùng từ hay quá). Thêm nữa, nền tảng tôn giáo hay la bàn đạo đức muôn hình vạn trạng nào đó cũng khó đánh bại những ai tuân thủ nghiêm ngặt Quy luật vàng (The Golden Rule): đối xử với người khác theo cách mình muốn được đối xử, điển hình như việc giữ tông giọng và thái độ như nhau giữa người dọn dẹp trong văn phòng bạn và các Chủ Tịch cấp cao.
Ở góc độ cá nhân, "thanh gươm tâm trí" sắc bén Warren Buffett trao cho mình chính là khả năng nhìn thấu tâm lý hay thái độ của một số kiểu hình tính cách của kẻ xấu (devil), thứ giúp bảo vệ bản thân khỏi những mạng lưới lừa đảo tràn lan trong xã hội hiện nay (thực chất thì những vụ như Ngân 98, Hằng Du Mục hay Shark Bình cũng không thoát khỏi những cảnh báo cơ bản/ red flags mà nhà hiền triết nêu ra cho công chúng). Những trăn trở của Warren về việc xây dựng một hệ thống có phẩm giá và trách nhiệm luôn thôi thúc mình phải suy tư và điều chỉnh bản thân liên tục, luôn hướng đến những giá trị dài hạn thay vì chụp giựt.
Cụ thể hơn, phần luận giải của Warren Buffett và Charlie Munger về vấn đề "tại sao những kẻ ác thường dễ kiếm tiền" tại cuộc họp thường niên 2010 đã gây ấn tượng rất mạnh với mình, cung cấp một góc nhìn sâu hơn về vấn đề "kẻ ác" cũng như sự chính trực khi theo đuổi triết lý đầu tư. Phần bóc tách dưới đây có một số nhân vật và sự kiện lịch sử mà các bạn phải google tìm hiểu thêm.
Lâu lâu cũng có những kẻ ác "hoàn hảo" thành công hoặc kiếm rất nhiều tiền, nhưng những kiểu hình thành công như vậy gợi nhắc cho chúng ta về những gì Đức Giáo Hoàng Urban VIII nói về Hồng Y Richelieu: "Nếu thực sự đấng Thiên Chúa xuất hiện, Hồng Y Richelieu chắc chắn phải trả lời ngài một số câu hỏi chất vấn. Còn nếu như không có Chúa ... thì, ông ta có lẽ đã có một cuộc đời thành công hay làm rất xuất sắc công việc "xấu xa" của mình". Lời nhận xét trên phản sách góc nhìn đa chiều về Richelieu, một nhân vật có cả hai khía cạnh tôn giáo và chính trị, chạm được quyền lực lớn nhưng thông qua những hành động tàn bạo và gây tranh cãi, đặc biệt trong vai trò chức sắc chủ chăn (linh mục) mà lại đi ngược các giá trị hay lợi ích của Nhà Thờ trong Cuộc Chiến 30 Năm (Henry Kissinger, người liên quan đến Chiến tranh Việt Nam, cũng hay nhắc đến ví dụ này). Richelieu cũng là nhân vật phản diện chính trong cuốn tiểu thuyết "Ba chàng lính ngự lâm" của Alexandre Dumas (xuất bản 1844 trong đó chứa nhiều nội dung mang tính biểu tượng về cấu trúc quyền lực của thế giới) và thêm một chi tiết thú vị khác, Richelieu là người phát minh ra con dao ăn trên các bàn tiệc sang trọng (fine dining) thể hiển đẳng cấp trong đời sống hiện đại ngày nay. Thế giới phức tạp ngoài kia thực sự có quá nhiều người theo đuổi hình mẫu thành công kiểu như Hồng Y Richelieu (bằng những thủ đoạn xấu xa và để mục đích biện minh cho phương tiện), nhóm này có lẽ cũng muốn được nhận "lời khen nước đôi" từ cấp có thẩm quyền giống như Giáo hoàng Urban VIII.
Một ví dụ kinh điển khác mà chúng ta có thể tham chiếu là cuộc chiến giữa FASB (Ủy ban tiêu chuẩn kế toán) và hệ thống các tập đoàn Hoa Kỳ vào năm 1993 quanh ứng xử đối với "quyền chọn mua cổ phiếu" (stock option), thứ giúp các công ty thu hút và giữ chân nhân viên). Cụ thể, FASB muốn lấp lại lỗ hổng cho phép các công ty loại bỏ việc ghi nhận stock option vào bản cân đối kế toán (balance sheets), tổ chức này coi stock option là khoản chi phí trong báo cáo tài chính (nhằm giữ chân nhân viên). Tuy nhiên, việc thay đổi nghiệp vụ kế toán này có thể khiến cho lợi nhuận của các công ty công nghệ cao hàng đầu tại Hoa Kỳ rơi rụng 60%, kéo sụp các khoản thưởng dành cho giới điều hành cấp cao. FASB cho rằng những thực hành kế toán sai lệch (misleading practice) sẽ khuyến khích các công ty ứng dụng nhiều thủ thật để tăng giá cổ phiếu thay vì tập trung vào giá trị cốt lõi đồng thời gây ảnh hưởng liên đới tới sức khỏe lâu dài của các doanh nghiệp, mà một ví dụ điển hình (hay kinh điển) là sự sụp đổ của tập đoàn Enron.
Ngay lập tức, hệ thống tập đoàn Hoa Kỳ cũng như ngành kế toán liên thủ để chống đối lại FASB, như Warren mô tả, bầu không khí trông như thế chiến II với các đạo quân CEO kéo đến thủ đô Washington. Kết quả là Thượng viện, dẫn dắt bởi thượng nghị sĩ Joseph Lieberman, đã thông qua nghị quyết không ràng buộc (non-binding resolution) để bác bỏ đề nghị của FASB với tỷ lệ phiếu thuận là 88, chống là 9 (88 to 9). Điều nực cười là FASB vốn dĩ là một tổ chức hiểu rành rọt về kế toán lại bị chính các chính trị gia uốn nắn chỉ bảo nên thực hiện nghiệp vụ như thế nào. Đã có những nhận định, một khi các tiêu chuẩn kế toán bị o ép trong môi trường mang màu sắc chính trị, chúng ta sẽ đánh mất kiểm soát những cấu thành tạo nên khái niệm "tiêu chuẩn". FASB sau khi bị dập cho tơi tả, đã đưa ra hai cách ứng xử cho các doanh nghiệp (1) khuyến khích đưa stock option vào chi phí (preferred) (2) tạm chấp nhận không đưa stock option vào chi phí (acceptable)nhưng không khuyến khích (not preferred).
Kết quả không có gì bất ngờ, trong 500 công ty thuộc danh sách S&P thì có đến 498 chọn cách thứ hai (chỉ có 2 công ty chọn cách còn lại). Warren đã nói chuyện với dàn lãnh đạo trong số 498 công ty kia, những người mà theo ông là đủ sự tin tưởng để mời vào hội đồng tin thác (trustee), hào hứng nếu họ là hàng xóm, thậm chí còn mong muốn gả con gái mình vào nhà họ, tuy nhiên cuối cùng vẫn phải nghe nhóm này tặc lưỡi: "tôi không thể làm nếu những người khác cũng không làm nó" hay cách nói khác "tôi làm điều này vì ai cũng làm nó" hay "các cổ đông sẽ trừng phạt tôi nếu tôi báo cáo lợi nhuận ít hơn thông thường". Lối tư duy này là căn nguyên của lỗ hổng đạo đức lớn chưa từng có trong hệ thống tập đoàn Hoa Kỳ (situational ethics). Warren cũng chỉ ra sự thật cay đắng, thật khó để tìm thấy những công ty có mức độ chính trực cao. Một ví dụ khác là thủ thuật tinh chỉnh các chỉ số trong báo cáo thu nhập theo quý (quarterly earnings) ở cấp độ 1/10 của một cent (hay 1/1000 của một đô la, ví dụ như con số 1,234$/ cổ phiếu). Rõ ràng con số digit cuối phải ngẫu nhiên là con số từ 1 đến 9, tuy nhiên không hiểu sao con số 4 thường hiếm khi xuất hiện mà nhảy luôn sang 5. Cụ thể 1,234$ có thể thay bằng 1,235$ hay 1,240$ (có phải do 4 là tử nên các doanh nghiệp né luôn theo quan niệm phương Đông). Việc hoán đổi 4 thành 5 như vậy nếu được chất vấn thì xác suất cao câu trả lời là: "ai cũng làm nên chúng tôi cũng làm theo".
Berkshire Hathaway luôn muốn loại bỏ những thực hành giống như vậy hoặc ít nhất tối thiểu những hành vi xấu nhiều nhất có thể. Sự chính trực (integrity) thực sự rất quan trọng, một cảm giác mà chúng ta đủ nhạy cảm sẽ đánh hơi thấy ngay nơi nó thiếu vắng, thêm nữa việc tỏ vẻ chính trực thì rất khác với thực sự có nó trong nội hàm. Do đó, những giá trị mà Berkshire cũng như cổ đông của mình theo đuổi là những thứ khó khăn nhọc nhằn nhất. Warren không có những nhà quản lý cấp trung chuyên làm công việc gửi kế hoạch ngân sách cho ông, không có cái gọi là ngân sách Berkshire. Cấp quản lý có thể sử dụng kĩ thuật ngân sách (có người sài có người không) tuy nhiên nếu họ đứng trước áp lực phải bày vẽ con số, nó sẽ tạo ra những động cơ xám xám (tạm gọi là không trong sáng), từ ít người có những thực hành sai lệch nó có thể lan tỏa trở thành một thứ thường ngày mà ai cũng tặc lưỡi: "thằng nào cũng đang làm", một hành vi điển hình rất con người (tâm lý bầy đàn). Chúng ta phải tạo ra một cấu trúc có thể giảm thiểu những yếu điểm trong hành vi con người, dù không hoàn hảo, nhưng Berkshire đã nỗ lực hướng đến việc nuôi dưỡng những giá trị cao thượng nhất trong con người.
Những hành xử xấu tính kinh ngạc thay không xuất phát từ ý đồ ác ý (malevolence) hay lòng tham, mà đến từ tiềm thức (subconscious) cùng khả năng nhận biết kém cõi (poor cognition), thường thể hiện qua thói quen biện minh cho những hành xử thiếu chừng mực và xấu xa. Chúng ta phải phân định rõ những thứ có thể biện minh và những thứ phải để tâm thấu hiểu, rõ ràng trạng thái nhập nhằng giữa hai thái cực này xảy ra với tất cả chúng ta và là một căn bệnh quả thực khó cứu chữa.
Liều thuốc hay ho nhất cho chúng ta chính là một hệ thống trong đó mỗi quyết định đưa ra phải kèm theo hậu quả liên đới nào đó, một hệ thống có phẩm giá và trách nhiệm, chắc chắn không giống như cái Phố Wall (Wall Street) tạo ra: kiểu không ai thực sự sỡ hữu thế chấp nhà (mortgages), họ chỉ chuyển giao cái này nhanh nhất có thể để thu về lợi nhuận mà không phải chịu trách nhiệm xem mortgages này tốt hay xấu. Những hệ thống kiểu kiểu như vậy, về cơ bản, là hệ thống lỗi và thiếu trách nhiệm (irresponsible) và những kẻ tạo ra nó quả thực thiếu đạo đức. Tuy nhiên, vấn đề lớn nằm ở chỗ, những kẻ ác không nhận ra mình đã phá vỡ la bàn đạo đức mà thường xuyên tung hô hệ thống lỗi của mình là trên cả tuyệt vời, coi đó là thông minh, là khéo léo luồn lách, là đem đến bài học cho đám đông ngu ngốc (chót lỡ dại dự phần). Khi hệ thống đổ vỡ, nhóm này tuyệt nhiên không một lời xin lỗi nhưng lại rất hay khoe mẽ việc từ thiện của mình.
Comments ()